Khi ô tô `ồ ạt` vào Việt Nam

Ở khía cạnh tích cực là hội nhập và việc giảm thuế nhập khẩu có thể khiến giá xe tại thị trường trong nước giảm đi. Nhưng ở một chiều tác động khác, số lượng ô tô tiêu thụ tăng lại khiến sức ép lên hạ tầng giao thông tịnh tiến theo.
Sau tháng đầu tiên thuế suất thuế nhập khẩu ô tô từ thị trường ASEAN giảm từ 40% về 30% chính thức được áp dụng, tác động lên kim ngạch nhóm hàng này đã có sự thay đổi mạnh mẽ.
Tính từ đầu năm - thời điểm biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA) giai đoạn 2016-2018 có hiệu lực - đến hết tháng 1/2017, theo ước tính của Tổng cục Thống kê kim ngạch nhập khẩu ô tô của cả nước đạt 445 triệu USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nhưng, so sánh ấy còn chưa phản ánh hết được hiệu ứng từ chính sách, bởi tháng 1 năm nay là tháng Tết, khác với năm ngoái kỳ nghỉ Tết rơi vào tháng 2. Thống kê nửa đầu tháng 1 có lẽ phản ánh đúng hơn hiệu lực của chính sách giảm thuế nêu trên.
Ảnh minh họa
Theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan, chỉ tính riêng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong 15 ngày đầu tháng 1/2017 đã gấp hơn 2 lần cùng kỳ, tính cả về lượng và giá trị. Trong đó, đáng chú ý là nhập khẩu ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống chiếm tỷ trọng hơn 50% nhưng có sự tăng trưởng mạnh mẽ, gấp khoảng 3 lần so với cùng kỳ về lượng và giá.
Với ô tô trên 9 chỗ ngồi, dù nhập khẩu không nhiều và chiếm tỷ trọng nhỏ trong bức tranh chung, cũng kịp tăng gần 40% về lượng và đáng chú ý là gấp tới 6 lần về giá trị so với cùng kỳ, biểu hiện của nhập khẩu “xe sang, xế lớn” rất rõ nét… Trên thực tế, nhập khẩu ô tô từ khu vực ASEAN đã bắt đầu tăng từ cuối năm ngoái, với Thái Lan và Indonesia là những nhà xuất khẩu chủ yếu.
Thương mại 2 chiều Việt Nam - ASEAN khá ổn định trong ít năm trở lại đây, xoay quanh mức xuất khẩu từ Việt Nam đạt khoảng 18 tỷ USD/năm còn nhập về xấp xỉ 24 tỷ USD/năm, tương ứng nhập siêu khoảng 6 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, tương quan này có thể bị phá vỡ rất nhanh.
Do khá tương đồng về cơ cấu hàng xuất khẩu, rất nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam được dự báo sẽ cạnh tranh gay gắt với hàng hoá từ các nước ASEAN. Trong khi đó, trình độ phát triển công nghiệp của một số nước trong khu vực khiến thị trường Việt Nam có thể trở thành “sân sau” tiêu thụ của các đối tác thành viên ASEAN. Nhập siêu từ khu vực nhiều khả năng sẽ lớn hơn, nhưng đó không phải là ảnh hưởng duy nhất.
Hội nhập dường như cũng đang “vô hiệu hóa” các chính sách hướng tới cân đối xuất nhập khẩu và hỗ trợ phát triển ngành sản xuất trong nước của Việt Nam. Theo quy định của Bộ Công Thương, xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi và một số chủng loại xe ô tô công suất động cơ lớn hiện được xếp vào nhóm hàng cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu.
Trong khi đó, Vụ Kinh tế dịch vụ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) mới đây đưa ra nhận xét quan trọng dựa trên các con số về nhập khẩu của Việt Nam tháng đầu năm. Đó là, nhóm hàng cần nhập khẩu chỉ đạt mức tăng trưởng 15,9%, nhưng nhóm hàng không khuyến khích nhập khẩu lại tăng trưởng tới 18,2%.
Khả năng ô tô nhập khẩu “chèn lấn” ô tô sản xuất trong nước cũng đi cùng từng chiếc xe ngoại lăn bánh tại Việt Nam. Đã từng có DN ô tô “bỏ ngỏ” ý định thôi sản xuất để chuyển sang nhập khẩu trực tiếp vào thị trường trong nước. Trong khi đó, những ý định tăng tỷ lệ nội địa hóa và hiện thực giấc mơ ô tô Việt có thể cũng sẽ phải nản lòng khi sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập tăng lên.
Ngay cả ở khía cạnh tích cực là hội nhập và việc giảm thuế nhập khẩu có thể khiến giá xe tại thị trường trong nước giảm đi. Nhưng ở một chiều tác động khác, số lượng ô tô tiêu thụ tăng lại khiến sức ép lên hạ tầng giao thông tịnh tiến theo.
Khi mà những chiếc xe có thể chạy tới 200 km/h vẫn hàng ngày phải bò trên đường thành phố, thời gian đi quãng đường vài cây số ở nội đô tính bằng cả thời gian chạy cao tốc xuống cảng Hải Phòng… thì ý nghĩa gia tăng luân chuyển người và hàng hóa, thúc đẩy mở rộng không gian phát triển kinh tế của ô tô cũng khó mà hiện thực.
Như vậy, sau biểu hiện tăng nhập khẩu ô tô trong tháng đầu năm thì vẫn còn “ngổn ngang” nhiều quan ngại.
( Thời báo Ngân Hàng)
0
0
Loại Mua vào Bán ra
Vàng SJC 1L - 10L 36.490 36.650
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 34.800 35.200
Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ 34.800 35.300
Vàng nữ trang 99,99% 34.450 35.150
Vàng nữ trang 99% 34.102 34.802
Vàng nữ trang 75% 25.115 26.515
Vàng nữ trang 58,3% 19.244 20.644
Vàng nữ trang 41,7% 13.409 14.809
  Mua vào Bán ra
AUD 16869.81 17156.93
CAD 17467.58 17818.65
CHF 23008.45 23470.49
DKK 0 3620.88
EUR 26395.93 26870.54
GBP 29592.99 30066.76
HKD 2934.5 2999.43
INR 0 335.82
JPY 202.76 211.26
KRW 19.08 21.34
KWD 0 79667.05
MYR 0 5601.77
NOK 0 2805.55
RUB 0 392.38
SAR 0 6443.36
SEK 0 2620.58
SGD 16769.88 17072.47
THB 693.63 722.56
USD 23270 23360